Những con đường có thể giúp bạn nhập cư vào Australia

Có hai con đường chính để di cư đến Úc đó là diện tạm trú (Temporary immigration) và diện thường trú (Permanent immigration).

Trước hết, diện tạm trú bao gồm một số loại thị thực như: thị thực sinh viên quốc tế, công nhân lành nghề và vừa du lịch vừa làm việc, được thống kê trong biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 1: Số người giữ thị thực tạm thời ở Australia từ 2012 – 2016

Để trở thành thường trú nhân của Úc, những người muốn nhập cư có thể nộp đơn vào các chương trình di trú hay chương trình nhân đạo.

Riêng người New Zealand thì sẽ có những quy chuẩn riêng nếu họ muốn trở thành thường trú nhân của Úc, có hàng trăm nghìn người đã và đang sinh sống tại Úc bằng một loại visa đặc biệt (sc444 trong biểu đồ phía trên)

Nhưng thậm chí chỉ với hai con đường định cư như đã đề cập thì vẫn có rất nhiều hướng đi cho mỗi loại.

Theo chia sẻ của đại diện cấp cao về luật di trú của trường Australian National University (ĐH Quốc gia Úc) với SBS World News, thì việc nhập cư vào Úc là cực kỳ phức tạp, đến mức hầu hết đa số mọi người đều cần sự hỗ trợ từ phía luật sư di trú để tìm hiểu quy trình nộp đơn.

“Đối với phần lớn mọi người, nó không chỉ là việc điền tờ khai, mà là họ cần phải biết nên đi theo hướng nào. Trong khi đó có khoảng 5.000 đại lý nhập cư ở Úc, và luật pháp thay đổi mọi lúc, nên thực sự phức tạp, khó khăn, tốn kém và tốn thời gian.”Cô nói.

Biểu đồ 2: Các loại thị thực ứng với từng cách thức nhập cư tại Australia

(Nguồn: Migration: the economic debate (Committee for Economic Development of Australia)

Để làm rõ yêu cầu, mục đích của các loại thị thực sẽ phù hợp với đối tượng cụ thể nào, bài viết xin trình bày các loại thị thực và các chương trình di trú cụ thể như sau:

1. Thị thực du học sinh quốc tế (International Student Visa)

Để học tập tại Úc, sinh viên quốc tế phải nộp đơn xin một trong những loại thị thực du học khác nhau.

Thị thực loại 500 bao gồm những người muốn học toàn thời gian tại một tổ chức giáo dục được công nhận.

Thị thực loại 590 cho phép người giám hộ đi cùng với người khác trên thị thực sinh viên nếu sinh viên dưới 18 tuổi.

Người giám hộ phải từ 21 tuổi trở lên và là phụ huynh hoặc người giám hộ có thẩm quyền của học sinh.

Thị thực đào tạo loại 407 dành cho những người tìm kiếm các cơ hội đào tạo cho phép tham gia đào tạo theo cơ chế có tổ chức có thể hội đủ điều kiện.

Thị thực loại 485 dành cho những người đã hoàn tất việc học tập và muốn ở lại Úc và tạm thời làm việc ở đó.

2. Thị thực diện tay nghề (Skilled Temporary Visa)

Úc chấp nhận người di cư có tay nghề tạm thời trong một loạt các ngành công nghiệp dưới nhiều loại thị thực khác nhau.

Các thị thực này bao gồm  di dân có kỹ năng nói chung, thị thực cho ngành dầu khí ngoài khơi và thị thực cho các doanh nhân, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Một trong những thị thực lao động nổi tiếng nhất và chính trị là giấy thị thực 457.

Từ tháng 3 năm 2018, thị thực 457 sẽ bị bãi bỏ và thay thế bằng thị thực lao động tay nghề thiếu hụt tạm thời (TSS).

Thị thực TSS sẽ bao gồm một dòng ngắn hạn lên đến hai năm, và một dòng trung hạn đến bốn năm.

Luồng ngắn hạn được thiết kế cho các doanh nghiệp Úc tạm thời tuyển dụng được người lao động nước ngoài có tay nghề để bù đắp sự thiếu hụt bởi không tìm được lao động có quốc tịch Úc phù hợp vơi yêu cầu công việc.

Luồng trung hạn sẽ cho phép người sử dụng lao động thu hút lao động nước ngoài để giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn lao động có kỹ năng cao cho một số công việc nhất định, khi mà không thể tim được nguồn lao động có tay nghề ở Úc phù hợp với công việc.

Những thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến đương đơn xin và nắm giữ thị thực 457 hiện tại, những người xin thị thực, và các doanh nghiệp tài trợ cho những người nhập cư và công nghiệp.

Hiện tại các thị thực 457 vẫn tiếp tục có hiệu lực. Những người nộp đơn xin visa 457 trước ngày 18 tháng 4 năm 2017 và chưa có quyết định áp dụng với một nghề nghiệp đã bị loại  khỏi STSOL có thể được hoàn lại lệ phí xin thị thực của họ. Việc chỉ định các doanh nghiệp cho các ứng dụng này cũng có thể được hoàn lại phí liên quan.

3. Thị thực làm việc trong kì nghỉ (Working Holiday Visa)

Chương trình thị thực vừa du lịch vừa làm việc ( loại 417 ) khuyến khích du khách sử dụng thời gian ở Úc như một hình thức trao đổi văn hoá.

Những người từ 18 đến 30 tuổi có thể nộp đơn xin đi Úc 12 tháng và làm việc tối đa sáu tháng cho một doanh nghiệp và học tập trong thời gian tối đa là bốn tháng.

Những người nộp đơn đã làm việc tại một khu vực đủ điều kiện trong tối thiểu là 88 ngày sau đó sẽ đủ điều kiện để xin thị thực làm việc trong 12 tháng tiếp theo.

Tuy nhiên, báo cáo gần đây của Fair Work cho thấy những người có thị thực này, đặc biệt là những người có kỹ năng tiếng Anh kém, dễ bị lạm dụng và bóc lột bởi người sử dụng lao động trong khu vực.

Báo cáo cho thấy những người có thị thực, thường là những người đi du lịch bụi, thường bị buộc phải làm việc vì lương thấp hoặc không trả tiền và bị đe dọa vì có thể bị mất visa nếu họ không tuân thủ các điều kiện và yêu cầu bất hợp pháp.

4. Công dân New Zealand (New Zealand Citizenship Visa)

Có nhiều hạn chế về cách người dân New Zealand có thể di cư vĩnh viễn đến Úc.

Những hạn chế này đã được thắt chặt trong những năm qua và việc tiếp cận cư dân New Zealand sống ở Úc phải phúc lợi cũng đã được khôi phục lại.

Hầu hết các cư dân ở Úc có thị thực loại đặc biệt cho phép họ sinh sống, làm việc và học tập tại Úc vô thời hạn,

Người New Zealand có thể sở hữu được quốc tịch Úc và những lợi ích mà nó mang lại – nếu họ đã sống ở Úc theo thị thực đặc biệt trong hơn năm năm có thu nhập khoảng 55.000 đô la Mỹ mỗi năm.

5. Chương trình di trú vĩnh viễn (Permanent Immigration Program)

Người di cư có thể nộp đơn xin thường trú tại Úc theo  nhiều loại thị thực khác nhau.

Chính phủ đã cung cấp 190.000 suất cho nhập cư vĩnh viễn trong năm 2016- 2017.

Trong số này, 128.550 suất được cấp phát cho người di cư lành nghề, 57.400 xuất dành cho người di cư trong gia đình và 565 suất cho “những người trước đây có quan hệ gần gũi với Úc”. 

Họ có thể được bảo lãnh theo diện nhập cư được bảo lãnh của bang, hoặc họ có thể đã sống trong một khu vực đặc biệt trong hai năm và làm việc trong khu vực đó trong tối thiểu một năm.

Diện bảo lãnh sẽ cho phép các thân nhân đủ điều kiện được bảo lãnh các thành viên gia đình đoàn tụ tại Úc, bao gồm cả trẻ em.

Theo chia sẻ của đại diện trường Đại học Quốc gia Úc về luật di trú – Marianne Dickie với SBS World News, có các cách khác để cư trú lâu dài bao gồm diện gia đình và diện kỹ năng kinh doanh, việc cấp thị thực vĩnh viễn có thể thay đổi rất nhiều và việc xin thị thực cho gia đình có thể mất nhiều thời gian nhất.

Các đơn xin cấp  thị thực bố mẹ  phải mất thời gian chờ, và khi khoản phân bổ cho năm đó đã hết, sẽ không có nhiều thị thực được chấp thuận, nhưng sẽ vẫn trong thời gian chờ xét duyệt.

Bà Dickie nói: “Thị thực phụ huynh rất khó, thị thực con cái thì dễ hơn, còn visa đoàn tụ vợ/chồng đã lên đến 6.000 đô la. Các thị thực của vợ/chồng là hai năm thị thực tạm thời, được xem xét lại sau 24 tháng để đảm bảo rằng cặp vợ chồng vẫn ở cùng nhau trước khi vợ/chồng được phép cư trú vĩnh viễn”.

Bà bổ sung: “thị thực cho các thành viên trong gia đình khác được ưu tiên thấp nhất và có thể mất hai hoặc ba năm để được chấp thuận, và thị thực người chăm sóc có thể mất nhiều thời gian hơn. Bạn phải chứng minh rằng người đó cần bạn chăm sóc cho họ trong ba năm, nhưng có thể mất 10 năm mới có thể được chấp nhận”.

Thông tin trên trang web của chính phủ cho thấy những đơn xin thị thực thân nhân và thân nhân lệ thuộc vào tuổi tác có thể mất đến 50 năm để được xử lý .

Các thị thực doanh nhân thường được đánh giá nhanh hơn, đặc biệt đối với những người đã hoàn thành chính xác các tiêu chuẩn di cư của chính phủ  .

Bà nói: “Với nguồn nhân lực có tay nghề cao, người dân phải bày tỏ sự quan tâm muốn di chuyển đến Úc và chính phủ sẽ lựa chọn người thích hợp để phê duyệt. Nó có thể mất đến một năm để xử lí”

Nhưng bà cho biết, nếu được bảo lãnh của bang cư trú thì việc xúc tiến thị thực sẽ nhanh hơn cho những người muốn di cư tới Úc.

“Tuy nhiên điều đó phụ thuộc vào lựa chọn của mỗi cá nhân, đôi khi xin visa theo con đường xin bảo lãnh của bang chưa phải là phương án tốt nhất. Nếu đương đơn có kĩ năng xuất chúng thì cũng không cần tới những phương án phía trên”.

Các khía cạnh đặc biệt, như kiểm tra ngôn ngữ và sức khoẻ, có thể trì hoãn tất cả các loại giấy phép nhập cảnh di trú vĩnh viễn, bà Dickie nói.

6. Chương trình người tị nạn và nhân đạo (Refugee and Humanitarian Program)

Chính phủ Úc đã lên kế hoạch cho 13.750 visa trong chương trình nhân đạo vào năm 2016- 2017.

Ngoài ra, chính phủ gần đây đã đưa thêm 12.000 người tị nạn từ cuộc xung đột Syria tới Úc.

Bà Dickie nói với SBS World News rằng chính phủ đã chọn những người tị nạn đăng ký với UNHCR (Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn) và sống trong các trại tị nạn để đến Úc.

Bà nói rằng chính phủ có xu hướng tập trung vào các nước cụ thể mỗi năm, gần đây đưa người tị nạn từ Myanmar và một số nước ở châu Phi, như Nam Sudan.

Chính phủ chỉ cấp thị thực bảo vệ cho người tị nạn và người xin tị nạn đến “hợp pháp”, thường là với sự trợ giúp của một nhân viên di cư. Những người này sau đó được hỗ trợ để xin thị thực bảo vệ theo Chương trình Trợ giúp Tư vấn và Hỗ trợ Nhập cư (IAAAS).

Trái lại, những thuyền nhân vượt biên không đủ điều kiện cho chương trình IAAAS và đã được đưa vào trại tạm giam ở ngoài khơi trên các đảo Manus, Papua New Guinea và Nauru.

Chính phủ hy vọng sẽ đóng cửa các trung tâm này và tiếp tục theo đuổi đàm phán với các nước để trả lại những người tị nạn đã vượt biên trái phép vào Úc bằng thuyền.

Các thị thực nhân đạo có thể mất nhiều năm để tiến hành, thường vì việc kiểm tra sức khoẻ bắt buộc kéo dài sẽ trì hoãn quá trình này, bà Dickie nói.

Bà nói: “Chương trình thị thực nhân đạo cho mục đích đoàn tụ gia đình hoặc các tiêu chuẩn được tài trợ có thể phải trải qua các cuộc đánh giá sức khoẻ ở những khu vực thiếu an ninh. Nhiều người đã trải qua quá trình này nhiều lần vì đánh giá sức khoẻ chỉ kéo dài một năm và sự chậm trễ làm cho chúng không hợp lệ.”

Chính phủ cũng cung cấp thị thực bảo vệ tạm thời và thị thực hội tị nạn an toàn theo chương trình nhân đạo phải mất ít nhất 6 tháng để xử lý một khi nộp đơn.

(Nguồn: www.sbs.com.au)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *